Trong bối cảnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và yêu cầu ngày càng cao đối với công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật, khoa học và công nghệ đang trở thành một trong những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và tổ chức bảo đảm trong toàn quân. Đối với Học viện Hậu cần, yêu cầu này càng có ý nghĩa trực tiếp, bởi thực tiễn hậu cần luôn đặt ra những bài toán mới cần được nghiên cứu, giải quyết bằng tư duy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là khâu đột phá nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Tinh thần đó đang được Học viện Hậu cần cụ thể hóa trong hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, từng bước đưa khoa học công nghệ đến gần hơn với những vấn đề thực tiễn của ngành hậu cần - kỹ thuật.
Từ những bài toán của thực tiễn
Thực tiễn công tác hậu cần - kỹ thuật luôn vận động cùng sự phát triển của phương thức tác chiến, tổ chức lực lượng, vũ khí trang bị và điều kiện kinh tế - xã hội. Những vấn đề như bảo đảm hậu cần trong các phương thức tác chiến hiện đại, quản lý nguồn lực, bảo đảm vật chất, xăng dầu, quân nhu, quân y, vận tải, doanh trại, kỹ thuật và tài chính... ngày càng đòi hỏi phương pháp tiếp cận mới.
Chính vì vậy, nghiên cứu khoa học ở Học viện Hậu cần không chỉ dừng lại ở việc giải quyết những vấn đề mang tính lý luận, mà ngày càng hướng mạnh vào các bài toán xuất phát từ thực tiễn đơn vị. Một đề tài nghiên cứu có giá trị không chỉ nằm ở kết quả nghiệm thu mà còn ở khả năng chuyển hóa thành quy trình, mô hình, sản phẩm, giải pháp hoặc tài liệu có thể sử dụng trong thực tế.
Đây cũng là hướng được Học viện nhấn mạnh trong triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện Hậu cần lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2025-2030. Đại hội xác định đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình, tài liệu huấn luyện; đồng thời nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính phù hợp với phương thức tác chiến hiện đại và vũ khí công nghệ cao.
Nghiên cứu phải bắt đầu từ câu hỏi của đơn vị
Từ thực tiễn đó, một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với hoạt động nghiên cứu khoa học là phải trả lời được câu hỏi: Đơn vị đang cần gì? Bộ đội đang gặp vấn đề gì? Khoa học có thể giải quyết vấn đề đó như thế nào?
Theo hướng này, lựa chọn đề tài cần chuyển mạnh từ tư duy “có gì nghiên cứu đó” sang xác định đúng nhu cầu thực tiễn, phát hiện vấn đề mới và tổ chức nghiên cứu để tạo ra sản phẩm có khả năng ứng dụng.
Đây cũng là cách các nhóm nghiên cứu chuyên sâu của Học viện Hậu cần đang triển khai. Trên cơ sở Nghị quyết 3488-NQ/QUTW, Đảng ủy Học viện đã tổ chức hai nhóm nghiên cứu chuyên sâu gồm “Nhóm nghiên cứu khoa học kỹ thuật hậu cần quân sự” và “Nhóm nghiên cứu phát triển lý luận hậu cần quân sự”.
Cách làm này mở ra hướng liên kết chặt chẽ hơn giữa nhà trường, cơ quan nghiên cứu và đơn vị thực tiễn: thực tiễn đặt vấn đề - nhà khoa học nghiên cứu - công nghệ hỗ trợ - sản phẩm trở lại phục vụ đơn vị.

Đoàn công tác Viện Nghiên cứu KHHCQS tại Lữ đoàn 126 - Quân chủng Hải quân
Những hướng nghiên cứu mới từ thực tiễn hậu cần
Từ yêu cầu của Nghị quyết 3488-NQ/QUTW và phương hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện lần thứ XXIII, có thể hình thành một số hướng nghiên cứu trọng tâm:
Một là, nghiên cứu phát triển lý luận hậu cần quân sự trong điều kiện mới.Tập trung nghiên cứu những vấn đề mới nảy sinh trong tổ chức bảo đảm hậu cần - kỹ thuật, tài chính; phương thức bảo đảm trong các điều kiện tác chiến mới; phát triển lý luận bảo đảm hậu cần phù hợp với sự thay đổi về tổ chức lực lượng, phương thức tác chiến và yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại.
Hai là, nghiên cứu khoa học kỹ thuật hậu cần quân sự. Đẩy mạnh nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, vật tư, trang thiết bị và quy trình nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm hậu cần. Kết quả nghiên cứu cần hướng tới các sản phẩm cụ thể, có khả năng thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao cho đơn vị.
Ba là, chuyển đổi số trong công tác hậu cần - kỹ thuật. Ứng dụng dữ liệu số, các nền tảng quản trị, tự động hóa và các công nghệ mới vào quản lý, dự báo, lập kế hoạch, điều hành và kiểm tra công tác bảo đảm. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa hồ sơ mà phải từng bước hình thành phương thức quản trị dựa trên dữ liệu.
Bốn là, nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới.AI, mô phỏng, phân tích dữ liệu và các công nghệ số có thể được nghiên cứu để hỗ trợ dự báo nhu cầu, tối ưu hóa phương án bảo đảm, huấn luyện - đào tạo và xử lý các bài toán hậu cần phức tạp. Học viện cũng đã bước đầu đưa AI, học liệu số, mô hình trực quan và tình huống mô phỏng vào hoạt động giảng dạy.
Năm là, nghiên cứu gắn với sản phẩm khoa học có khả năng ứng dụng. Mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu không chỉ là công bố hay nghiệm thu mà còn là tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng. Học viện đang chú trọng hoàn thiện quy trình từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất thành phẩm và đưa sản phẩm khoa học vào phục vụ nhiệm vụ bảo đảm hậu cần trong Quân đội.

Thử nghiệm suất ăn dã ngoại tại Sư đoàn 316
Từ “đề tài” đến “sản phẩm”
Một điểm đáng chú ý trong định hướng mới là thay đổi cách nhìn về hiệu quả nghiên cứu. Một đề tài tốt cần hướng đến khả năng tạo ra giá trị thực tiễn: một sản phẩm mới, một quy trình mới, một mô hình mới, một phần mềm, một cơ sở dữ liệu, một giải pháp kỹ thuật hoặc một luận cứ khoa học phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức bảo đảm.
Hiện nay, các nhóm nghiên cứu chuyên sâu đang hướng tới việc đưa khoa học công nghệ vào nội dung nghiên cứu, đổi mới sáng tạo vào cách lựa chọn và quản trị nhiệm vụ, đồng thời đưa chuyển đổi số vào toàn bộ quy trình từ đề xuất đến nghiệm thu. Thước đo được nhấn mạnh là sản phẩm có thể được đơn vị sử dụng, góp phần nâng cao chất lượng bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho Quân đội.
Điều đó đặt ra yêu cầu mới đối với mỗi cán bộ, giảng viên, nhà khoa học: không chỉ nghiên cứu cái mình biết, mà phải nghiên cứu cái thực tiễn cần; không chỉ tạo ra kết quả khoa học, mà phải quan tâm đến con đường đưa kết quả đó vào cuộc sống.
Mở không gian sáng tạo cho cán bộ trẻ, học viên
Một hướng quan trọng khác là phát huy sức sáng tạo của đội ngũ cán bộ trẻ và học viên. Đây là lực lượng có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ mới, tư duy số và những phương pháp nghiên cứu hiện đại.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện lần thứ XXIII xác định tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Tuổi trẻ sáng tạo”, tăng cường phối hợp nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các đề tài, sáng kiến vào thực tiễn, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ bộ đội.
Nếu được tổ chức tốt, mỗi vấn đề phát sinh từ thao trường, đơn vị, kho tàng, bếp ăn, bệnh xá, cơ sở kỹ thuật, hệ thống vận tải hay công tác quản lý tài chính đều có thể trở thành một “bài toán nghiên cứu”. Từ những sáng kiến nhỏ, có thể hình thành các đề tài, nhóm nghiên cứu và xa hơn là những sản phẩm khoa học mang dấu ấn của Học viện.
Từ thực tiễn hậu cần đến hệ sinh thái nghiên cứu
Nghị quyết 3488-NQ/QUTW và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện Hậu cần lần thứ XXIII tạo ra một yêu cầu xuyên suốt: gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn, gắn đổi mới sáng tạo với giải quyết vấn đề, gắn chuyển đổi số với nâng cao hiệu quả hoạt động và gắn kết quả nghiên cứu với sản phẩm phục vụ Quân đội.
Từ đó, hướng đi của nghiên cứu khoa học hậu cần có thể được hình dung theo một chuỗi liên tục: Thực tiễn → Phát hiện vấn đề → Đặt bài toán khoa học → Nghiên cứu → Thử nghiệm → Hoàn thiện → Chuyển giao → Ứng dụng.
Đó không chỉ là sự thay đổi về phương pháp nghiên cứu, mà còn là sự thay đổi về tư duy khoa học. Khi mỗi công trình bắt đầu từ một vấn đề thực tiễn và kết thúc bằng một giá trị có thể sử dụng, khoa học sẽ thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật.
“Từ thực tiễn hậu cần đến những hướng nghiên cứu mới” vì thế không chỉ là một chủ đề nghiên cứu, mà có thể trở thành phương thức kết nối giữa giảng đường, phòng thí nghiệm và đơn vị; giữa lý luận và thực tiễn; giữa nhà khoa học và người sử dụng; qua đó góp phần cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 3488-NQ/QUTW và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện Hậu cần lần thứ XXIII trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tin & ảnh: Đức Tú - B12